Ly hôn đơn phương vốn đã là một thủ tục phức tạp do chỉ xuất phát từ ý chí của một bên vợ hoặc chồng. Trong thực tế, nhiều trường hợp người còn lại cố tình bỏ đi, cắt liên lạc, thay đổi nơi cư trú hoặc biệt tích nhiều năm khiến việc ly hôn càng khó khăn hơn.
Vậy khi không biết vợ hoặc chồng đang sống ở đâu thì có ly hôn được không? Phải khởi kiện tại Tòa án nào? Có bắt buộc tuyên bố mất tích hay không?
Bài viết dưới đây phân tích toàn bộ quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn giải quyết của Tòa án đối với trường hợp ly hôn khi không xác định được nơi cư trú của vợ hoặc chồng.
VÌ SAO PHẢI XÁC ĐỊNH NƠI CƯ TRÚ CỦA VỢ HOẶC CHỒNG KHI LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG?
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương được xác định theo nơi cư trú của bị đơn.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Cạnh đó, tại khoản 1 Điều 11 Luật Cư trú 2020 quy định nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú và nơi tạm trú.
Như vậy, khi nộp đơn ly hôn đơn phương, người khởi kiện phải xác định được ít nhất một trong các thông tin sau của người còn lại:
– Nơi thường trú;
– Nơi tạm trú;
– Nơi đang sinh sống, làm việc thực tế.
Đây là căn cứ để:
– Xác định đúng Tòa án có thẩm quyền;
– Tống đạt giấy triệu tập;
– Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của bị đơn.
Nếu không xác định được nơi cư trú của bị đơn, Tòa án có thể từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết vụ án.
NHỮNG TRƯỜNG HỢP THƯỜNG GẶP KHI KHÔNG BIẾT ĐỊA CHỈ VỢ HOẶC CHỒNG
Trong thực tế, việc không xác định được nơi cư trú của vợ hoặc chồng thường xuất phát từ các nguyên nhân như:
– Vợ hoặc chồng cố tình trốn tránh ly hôn;
– Hai bên ly thân nhiều năm;
– Một bên bỏ đi khỏi địa phương;
– Không còn liên lạc;
– Không biết nơi làm việc hoặc nơi ở hiện tại;
– Thường xuyên thay đổi nơi cư trú;
– Xuất cảnh nhưng không rõ địa chỉ ở nước ngoài.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều vụ án ly hôn kéo dài nhiều năm.
KHÔNG BIẾT ĐỊA CHỈ CỦA VỢ HOẶC CHỒNG CÓ ĐƯỢC NỘP ĐƠN LY HÔN KHÔNG?
Có thể, nhưng cần phân biệt từng trường hợp cụ thể. Trường hợp vẫn còn địa chỉ cư trú cuối cùng, nếu người yêu cầu ly hôn không biết nơi ở hiện tại nhưng vẫn biết:
– Địa chỉ thường trú trước đây;
– Địa chỉ trên giấy đăng ký kết hôn;
– Địa chỉ hộ khẩu cũ;
– Nơi cư trú cuối cùng,
Thì vẫn có thể nộp đơn ly hôn tại Tòa án nơi người đó cư trú cuối cùng. Sau khi thụ lý, Tòa án sẽ tiến hành xác minh.
TÒA ÁN SẼ GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO?
Sau khi nhận đơn ly hôn, thường xảy ra 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Bị đơn vẫn cư trú tại địa chỉ đã cung cấp nhưng cố tình trốn tránh
Nếu Tòa án xác minh được:
– Bị đơn vẫn sinh sống tại địa chỉ đó;
– Hoặc nhận được giấy tờ nhưng cố tình né tránh,
Thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Trong trường hợp này:
– Tòa vẫn có thể xét xử vắng mặt;
– Việc cố tình trốn tránh không làm mất quyền yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Đây là trường hợp khá phổ biến trong thực tế.
Trường hợp 2: Bị đơn đã bỏ đi, không còn cư trú tại địa chỉ cũ
Nếu Tòa án xác minh:
– Người đó không còn cư trú;
– Không rõ nơi ở hiện tại;
– Không xác định được địa chỉ mới,
Thì Tòa án sẽ yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn.
Nếu nguyên đơn không cung cấp được và Tòa án cũng không thể xác minh được địa chỉ mới thì vụ án có thể bị đình chỉ theo điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Lúc này, người yêu cầu ly hôn thường phải thực hiện thủ tục:
– Yêu cầu tuyên bố mất tích;
– Hoặc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
KHI NÀO PHẢI YÊU CẦU TÒA ÁN TUYÊN BỐ MẤT TÍCH?
Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực thì Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Đồng thời, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Như vậy, nếu:
– Vợ hoặc chồng đã biệt tích từ 02 năm trở lên;
– Không có tin tức xác thực;
– Không xác định được nơi cư trú,
Thì người còn lại có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích trước khi thực hiện thủ tục ly hôn.
TRƯỜNG HỢP NÀO ĐƯỢC YÊU CẦU TUYÊN BỐ ĐÃ CHẾT?
Theo Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015, một người có thể bị tuyên bố là đã chết nếu:
– Biệt tích 05 năm liền trở lên;
– Hoặc sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực mà vẫn không có tin tức.
Ngoài ra còn có các trường hợp đặc biệt như:
– Mất tích trong chiến tranh;
– Mất tích do thiên tai, tai nạn, thảm họa.
Sau khi Tòa án tuyên bố một người là đã chết:
– Quan hệ hôn nhân đương nhiên chấm dứt;
– Không cần thực hiện thủ tục ly hôn.
THỦ TỤC YÊU CẦU TUYÊN BỐ MẤT TÍCH HOẶC ĐÃ CHẾT
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu
Người yêu cầu nộp đơn tại Tòa án nơi người bị yêu cầu cư trú cuối cùng. Kèm theo:
– Tài liệu chứng minh đã mất liên lạc;
– Xác nhận địa phương;
– Chứng cứ tìm kiếm;
– Thông tin nhân thân liên quan.
Bước 2: Tòa án thông báo tìm kiếm
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt.
Thời hạn thông báo là 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo đầu tiên.
Bước 3: Tòa án ra quyết định
Sau khi hết thời hạn thông báo:
– Nếu đủ điều kiện, Tòa tuyên bố mất tích;
– Hoặc tuyên bố đã chết theo quy định.
THỦ TỤC LY HÔN SAU KHI ĐÃ TUYÊN BỐ MẤT TÍCH
Sau khi có quyết định tuyên bố mất tích, người còn lại có thể tiếp tục thực hiện thủ tục ly hôn đơn phương. Hồ sơ gồm:
– Đơn khởi kiện ly hôn;
– Giấy đăng ký kết hôn;
– CCCD/Căn cước;
– Giấy khai sinh con;
– Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án.
Nơi nộp hồ sơ là Tòa án nhân dân có thẩm quyền nơi người bị tuyên bố mất tích cư trú cuối cùng.
BẠN ĐANG CẦN HỖ TRỢ PHÁP LÝ?
Mọi thông tin trong bài viết đều được tham vấn chuyên môn bởi Luật sư Trần Duy Huy. Nếu bạn đang gặp vướng mắc về đất đai, ly hôn – quyền nuôi con hoặc các vụ án hình sự, hãy liên hệ ngay để được hỗ trợ kịp thời:
LUẬT SƯ TRẦN DUY HUY
Hotline: 0369151515
Địa chỉ: 286 Nguyễn Oanh, Gò Vấp, Hồ Chí Minh