DI CHÚC CÓ BỊ VÔ HIỆU KHI XÂM PHẠM QUYỀN THỪA KẾ BẮT BUỘC? QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ

Tác giả Hồng Phúc

11/05/2026

Luật sư Trần Duy Huy ảnh đại diện

Được tham vấn bởi Luật sư Trần Duy Huy

11/05/2026

Di chúc là căn cứ pháp lý quan trọng thể hiện ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản sau khi chết. Thông qua di chúc, người để lại tài sản có thể chủ động lựa chọn người hưởng di sản, phân chia tài sản theo ý chí của mình hoặc truất quyền hưởng di sản của một số chủ thể nhất định.

Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp người lập di chúc cho rằng chỉ cần di chúc được công chứng là có thể toàn quyền quyết định việc phân chia tài sản. Đây là quan điểm chưa hoàn toàn chính xác. Thực tiễn xét xử cho thấy, dù di chúc được lập đúng hình thức và có công chứng, nội dung di chúc vẫn có thể không được thực hiện toàn bộ nếu xâm phạm quyền lợi của người thừa kế được pháp luật bảo vệ hoặc định đoạt vượt quá phạm vi quyền sở hữu tài sản.

Bài viết dưới đây phân tích quy định pháp luật hiện hành xoay quanh di chúc, đồng thời dẫn chiếu nhận định của Tòa án từ bản án thực tế.

DI CHÚC LÀ GÌ?

Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Theo đó, người lập di chúc có quyền:

– Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

– Phân định phần di sản cho từng người thừa kế. 

– Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng. 

– Giao nghĩa vụ cho người thừa kế. 

– Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Tuy nhiên, quyền định đoạt này KHÔNG phải là tuyệt đối. Trong một số trường hợp, dù người lập di chúc không để lại tài sản cho một số cá nhân nhất định, pháp luật vẫn bảo vệ quyền hưởng di sản của họ.

Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, các chủ thể sau vẫn được hưởng di sản dù không được chỉ định trong di chúc gồm:

– Con chưa thành niên;

– Cha, mẹ;

– Vợ hoặc chồng;

– Con thành niên không có khả năng lao động.

Những người này được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Đây là quy định hạn chế quyền truất quyền thừa kế tuyệt đối của người lập di chúc.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ DI CHÚC HỢP PHÁP GỒM NHỮNG GÌ?

Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

– Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; 

– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. 

Trường hợp di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. 

Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 

Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015. 

Đối với di chúc miệng, trường hợp này được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. 

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

DI CHÚC BỊ VÔ HIỆU TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP NÀO?

Trong thực tế, di chúc có thể bị vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần tùy từng trường hợp cụ thể.

(1) Di chúc vô hiệu một phần:

Theo khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc có thể bị vô hiệu một phần trong các trường hợp:

– Một phần nội dung di chúc không hợp pháp nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực phần còn lại;

– Một trong nhiều người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

– Cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng di sản không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế;

– Một phần di sản không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế.

(2) Di chúc bị vô hiệu toàn bộ:

Di chúc có thể bị vô hiệu toàn bộ nếu:

– Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

– Tổ chức được chỉ định hưởng di sản không còn tồn tại;

– Di sản không còn tại thời điểm mở thừa kế.

Ngoài ra, di chúc cũng có thể bị tuyên vô hiệu nếu không đáp ứng điều kiện hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, chẳng hạn:

– Người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt;

– Bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

– Nội dung trái pháp luật;

– Hình thức không đúng quy định.

(3) Trường hợp có nhiều bản di chúc:

Theo khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015, khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Do đó, khi phát sinh tranh chấp, Tòa án thường phải xác định:

– Thời điểm lập từng bản di chúc;

– Có sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế hay không;

– Tính hợp pháp của bản di chúc sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ HIỆU LỰC DI CHÚC TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ

Tham khảo từ Bản án phúc thẩm số 866/2023/DS-PT ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy thực tiễn xét xử hiện nay không chỉ xem xét hình thức công chứng của di chúc mà còn đánh giá phạm vi quyền định đoạt và quyền lợi của các chủ thể liên quan. Cụ thể:

(1) Di chúc công chứng không đồng nghĩa nội dung được thực hiện tuyệt đối

Trong vụ việc được xét xử, mặc dù di chúc được lập tại tổ chức công chứng và bảo đảm điều kiện hình thức, Tòa án vẫn xem xét:

– Tài sản có thuộc quyền sở hữu của người lập hay không;

– Phạm vi tài sản được định đoạt;

– Quyền lợi của người thừa kế liên quan.

Kết quả, Tòa xác định di chúc vẫn có hiệu lực nhưng chỉ đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người lập. 

Nhận định này cho thấy, công chứng không làm phát sinh quyền định đoạt vượt quá quyền sở hữu thực tế.

(2) Người lập di chúc không được tước bỏ quyền của người thừa kế bắt buộc

Trong bản án, người lập di chúc không để lại tài sản cho vợ hợp pháp. Tuy nhiên, người vợ này vẫn thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.

Do đó, di chúc không bị tuyên vô hiệu toàn bộ nhưng nội dung xâm phạm quyền của người thừa kế bắt buộc không được thực hiện tuyệt đối. Nên người vợ vẫn được hưởng phần di sản theo quy định pháp luật.

Đây là vấn đề rất thường gặp trong các tranh chấp thừa kế có:

– Hôn nhân sau;

– Gia đình có con riêng;

– Tài sản lớn;

– Mâu thuẫn nội bộ gia đình.

(3) Chỉ được định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình

Bên cạnh đó, Tòa án cũng nhấn mạnh việc đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc tham gia quản lý tài sản không đồng nghĩa có toàn quyền định đoạt toàn bộ tài sản. Theo đó, trước khi xem xét về hiệu lực của di chúc, Tòa án sẽ xác định:

– Nguồn gốc tài sản;

– Tài sản chung hay riêng;

– Quyền sở hữu của từng cá nhân.

Phần tài sản không thuộc quyền sở hữu của người lập không thể bị định đoạt hợp pháp bằng di chúc.

(4) Giao dịch phát sinh từ di sản không hợp pháp có thể bị vô hiệu dây chuyền

Sau khi xác định có phần tài sản bị định đoạt vượt quyền, Tòa án sẽ tiếp tục xem xét hiệu lực của:

– Văn bản khai nhận di sản;

– Văn bản thỏa thuận phân chia di sản;

– Hợp đồng chuyển nhượng;

– Giấy chứng nhận đã cấp;

– Cập nhật biến động đất đai.

Nhiều giao dịch phát sinh bị tuyên vô hiệu hoặc bị hủy bỏ.

Điều này cho thấy tranh chấp di chúc có thể kéo theo hậu quả pháp lý rất rộng, không chỉ dừng ở phạm vi phân chia tài sản giữa các đồng thừa kế.

(5) Công sức quản lý, gìn giữ tài sản vẫn được xem xét

Ngoài quyền sở hữu, Tòa án còn xem xét yếu tố thực tế như:

– Quản lý;

– Bảo quản;

– Kê khai;

– Hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho tài sản.

Người có công sức đóng góp thực tế có thể được xem xét quyền lợi tương ứng dù không phải chủ sở hữu toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ TRẦN DUY HUY

Theo Luật sư Trần Duy Huy, với nhiều năm kinh nghiệm tham gia tư vấn và giải quyết tranh chấp thừa kế, tranh chấp về di chúc trên thực tế hiếm khi chỉ xoay quanh câu hỏi “di chúc có tồn tại hay không” hoặc “di chúc có được công chứng hay chưa”.

Phần lớn các vụ án phát sinh tranh chấp đều nằm ở những vấn đề pháp lý sâu hơn như:

– Người lập di chúc có thực sự có quyền định đoạt đối với tài sản đó hay không;

– Di sản để lại là tài sản riêng hay tài sản chung chưa phân chia;

– Có tồn tại người thừa kế bắt buộc theo quy định pháp luật hay không;

– Nội dung di chúc có xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể khác hay vượt quá phạm vi quyền sở hữu của người lập di chúc hay không.

Qua bản án được phân tích trong bài viết có thể thấy, dù người để lại di sản đã lập di chúc và thực hiện công chứng, tranh chấp vẫn phát sinh kéo dài do chưa giải quyết triệt để yếu tố cốt lõi là xác định đúng phạm vi tài sản được quyền định đoạt.

Đây là sai lầm rất phổ biến trong thực tế.

Nhiều người cho rằng chỉ cần đang quản lý tài sản, cư trú ổn định tại tài sản hoặc đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mặc nhiên có quyền định đoạt toàn bộ tài sản.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, quyền sở hữu tài sản không được xác lập đơn thuần từ việc quản lý hoặc đứng tên giấy tờ.

Đặc biệt đối với tài sản là nhà đất, cần xem xét đầy đủ các yếu tố sau đây:

– Nguồn gốc hình thành tài sản;

– Thời điểm tạo lập tài sản;

– Tình trạng hôn nhân của người để lại tài sản;

– Có phát sinh tài sản chung vợ chồng hoặc tài sản chung hộ gia đình hay không;

– Có phát sinh quyền thừa kế chưa phân chia của các đồng thừa kế hay không.

Trong rất nhiều trường hợp, người lập di chúc chỉ có quyền định đoạt đối với một phần tài sản nhưng lại nhầm tưởng mình có quyền quyết định toàn bộ.

Hệ quả là sau khi người đó chết, các đồng thừa kế phát sinh tranh chấp, dẫn đến hàng loạt hệ quả pháp lý như:

– Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu;

– Tranh chấp xác định tài sản chung, riêng;

– Tranh chấp chia di sản thừa kế;

– Yêu cầu hủy văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản;

– Hủy hợp đồng chuyển nhượng phát sinh từ tài sản thừa kế;

– Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc cập nhật biến động đất đai.

Điểm đáng lưu ý trong vụ án này là Tòa án không tuyên vô hiệu toàn bộ di chúc, mà chỉ giới hạn hiệu lực của di chúc trong phạm vi phần tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người lập.

Theo Luật sư Trần Duy Huy, đây là hướng giải quyết phù hợp với nguyên tắc tôn trọng ý chí định đoạt của cá nhân nhưng đồng thời bảo đảm sự cân bằng với quyền lợi của các chủ thể khác có liên quan.

Nói cách khác, pháp luật Việt Nam công nhận quyền lập di chúc nhưng không trao quyền tuyệt đối. Người lập di chúc không thể:

– Định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình;

– Tước bỏ hoàn toàn quyền hưởng di sản của người thuộc diện thừa kế bắt buộc;

– Sử dụng di chúc như công cụ loại trừ mọi quyền lợi của thành viên khác trong gia đình.

Đây là giới hạn pháp lý rất quan trọng mà nhiều người chưa nhận thức đầy đủ khi lập di chúc.

Trong thực tiễn hành nghề, Luật sư Trần Duy Huy nhận thấy tranh chấp thừa kế thường xảy ra nhiều nhất trong các trường hợp:

– Gia đình có nhiều đời cùng sinh sống trên một tài sản;

– Tài sản chưa hoàn tất thủ tục pháp lý hoặc nguồn gốc hình thành phức tạp;

– Có hôn nhân trước, hôn nhân sau;

– Có con riêng, con nuôi hoặc người sống phụ thuộc;

– Tài sản có giá trị lớn như nhà đất tại đô thị.

Ở các trường hợp này, việc lập di chúc theo mẫu hoặc chỉ dựa vào công chứng mà không rà soát kỹ hồ sơ pháp lý là chưa đủ an toàn.

Để hạn chế tối đa tranh chấp, người dân khi lập di chúc nên chủ động thực hiện các bước sau:

(1) Xác định chính xác phạm vi tài sản được quyền định đoạt

Trước khi lập di chúc, cần rà soát kỹ:

– Tài sản là tài sản riêng hay tài sản chung;

– Có đang phát sinh quyền lợi của người khác hay không;

– Có phải di sản thừa kế chưa chia hay không.

Chỉ khi xác định đúng phạm vi sở hữu thì nội dung di chúc mới có khả năng thực thi trên thực tế.

(2) Rà soát người thuộc diện thừa kế bắt buộc

Nhiều người lập di chúc chỉ quan tâm đến người mình muốn để lại tài sản mà bỏ sót nhóm người được pháp luật bảo vệ.

Theo quy định hiện hành, các chủ thể như:

– Vợ hoặc chồng;

– Cha, mẹ;

– Con chưa thành niên;

– Con thành niên không có khả năng lao động

Vẫn có thể được hưởng một phần di sản dù không có tên trong di chúc.

Nếu không tính toán trước yếu tố này, tranh chấp phát sinh gần như là điều khó tránh khỏi.

(3) Ưu tiên lập di chúc tại tổ chức công chứng và lưu giữ hồ sơ đầy đủ

Công chứng không bảo đảm di chúc chắc chắn không tranh chấp, nhưng giúp giảm đáng kể rủi ro liên quan đến:

– Giả mạo chữ ký;

– Tranh chấp thời điểm lập di chúc;

– Tranh chấp về ý chí tự nguyện.

Ngoài di chúc, nên lưu giữ kèm:

– Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản;

– Hồ sơ nhân thân;

– Hồ sơ sức khỏe nếu người lập lớn tuổi hoặc đang điều trị bệnh.

Đây là nguồn chứng cứ quan trọng nếu sau này phát sinh tranh chấp.

(4) Tham vấn luật sư trước khi lập di chúc đối với tài sản phức tạp

Đối với các trường hợp:

– Tài sản giá trị lớn;

– Có nhiều người thừa kế;

– Quan hệ gia đình phức tạp;

– Tài sản có lịch sử hình thành lâu năm,

Thì việc tham vấn ý kiến từ luật sư là cần thiết. Luật sư có thể hỗ trợ thực hiện đối với các công việc như:

– Rà soát quyền sở hữu;

– Xác định người thừa kế bắt buộc;

– Xây dựng phương án phân chia phù hợp;

– Hạn chế rủi ro tranh chấp và vô hiệu di chúc.

Theo Luật sư Trần Duy Huy, một bản di chúc được lập đúng pháp luật không chỉ nhằm bảo đảm ý chí của người để lại tài sản được thực hiện mà còn giúp hạn chế mâu thuẫn, bảo vệ sự ổn định trong quan hệ gia đình sau khi mở thừa kế.

Trong nhiều trường hợp, chuẩn bị kỹ lưỡng ngay từ thời điểm lập di chúc thường tiết kiệm đáng kể chi phí, thời gian và tổn thất tinh thần so với việc giải quyết tranh chấp kéo dài nhiều năm tại Tòa án.

KẾT LUẬN

Di chúc là công cụ pháp lý quan trọng giúp cá nhân chủ động định đoạt tài sản sau khi chết và hạn chế tranh chấp giữa các đồng thừa kế.

Tuy nhiên, để di chúc thực sự phát sinh hiệu lực và được pháp luật công nhận, người lập di chúc cần bảo đảm được đầy đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung, hình thức cũng như phạm vi quyền định đoạt tài sản.

Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều tranh chấp phát sinh không phải do không có di chúc mà do nội dung di chúc chưa phù hợp quy định pháp luật hoặc người lập chưa xác định đầy đủ quyền sở hữu và người thừa kế bắt buộc.

Đối với tài sản nhà đất hoặc tài sản giá trị lớn, việc rà soát pháp lý và tham vấn luật sư trước khi lập di chúc là cần thiết nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của di chúc và hạn chế tối đa rủi ro tranh chấp phát sinh trong tương lai.

Trong trường hợp cần tư vấn về lập di chúc, rà soát hiệu lực di chúc, phân chia di sản thừa kế hoặc giải quyết tranh chấp liên quan, người dân nên tham khảo ý kiến luật sư để được hướng dẫn phù hợp với từng trường hợp cụ thể.


BẠN ĐANG CẦN HỖ TRỢ PHÁP LÝ?

Mọi thông tin trong bài viết đều được tham vấn chuyên môn bởi Luật sư Trần Duy Huy. Nếu bạn đang gặp vướng mắc về đất đai, ly hôn – quyền nuôi con hoặc các vụ án hình sự, hãy liên hệ ngay để được hỗ trợ kịp thời:

LUẬT SƯ TRẦN DUY HUY
Hotline: 0369151515
Địa chỉ: 286 Nguyễn Oanh, Gò Vấp, Hồ Chí Minh

5/5 - (1 bình chọn)

Viết một bình luận

chat-active-icon