Nhà đất là tài sản có giá trị lớn nên việc cha mẹ sang tên Sổ đỏ cho con thường được thực hiện nhằm ổn định cuộc sống, hỗ trợ con cái hoặc phân chia tài sản trong gia đình từ sớm. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp việc tặng cho quyền sử dụng đất được thực hiện theo thói quen, cảm tính hoặc không đúng quy định pháp luật dẫn đến tranh chấp kéo dài giữa các thành viên trong gia đình.
Dưới góc độ pháp lý, để việc sang tên Sổ đỏ cho con được đảm bảo giá trị pháp lý và hạn chế tranh chấp về sau, người dân cần đặc biệt lưu ý những trường hợp dưới đây.
CHA MẸ CHỈ TẶNG CHO NGƯỜI CON RA Ở RIÊNG, KHÔNG LÀM THỦ TỤC ĐỐI VỚI PHẦN ĐẤT CÒN LẠI
Đây là trường hợp diễn ra khá phổ biến trong thực tế.
Thông thường, khi con lập gia đình hoặc ra ở riêng, cha mẹ sẽ tách một phần đất để cho người con đó và thực hiện thủ tục sang tên đầy đủ. Phần đất còn lại cha mẹ tiếp tục quản lý, sử dụng và thường để người con sống chung với mình chăm sóc.
Tuy nhiên, nhiều gia đình chỉ nói miệng rằng phần đất còn lại sẽ để cho người con sống chung mà không lập hợp đồng tặng cho hoặc di chúc hợp pháp.
Về mặt pháp lý, khi cha mẹ qua đời, phần đất chưa được sang tên hoặc chưa được định đoạt bằng di chúc sẽ trở thành di sản thừa kế và được chia theo quy định pháp luật.
Lúc này, những người con khác dù trước đây đã được cha mẹ cho đất vẫn có quyền yêu cầu chia thừa kế đối với phần tài sản còn lại nếu không từ chối nhận di sản. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều tranh chấp giữa anh chị em trong gia đình.
Khuyến nghị: Để tránh tranh chấp, nếu cha mẹ có ý định để phần đất còn lại cho người con sống chung thì nên:
– Thực hiện hợp đồng tặng cho đúng quy định;
– Hoặc lập di chúc hợp pháp thể hiện rõ ý chí để lại tài sản.
ĐẤT ĐỨNG TÊN HỘ GIA ĐÌNH NHƯNG CHA MẸ TỰ Ý CHO CON THEO Ý MÌNH
Một trong những nguyên nhân tranh chấp phổ biến hiện nay là nhiều người không phân biệt được đất đứng tên cá nhân và đất hộ gia đình.
Theo quy định của Luật Đất đai 2024, hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, đang cùng sinh sống và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng.
Dấu hiệu nhận biết phổ biến là trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi “Hộ ông…” hoặc “Hộ bà…”.
Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất không chỉ thuộc cha mẹ mà còn có thể thuộc về các thành viên khác trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận.
Do đó, nếu cha mẹ tự ý sang tên cho một người con hoặc phân chia không đồng đều mà không có sự đồng ý của các thành viên có quyền liên quan thì rất dễ phát sinh tranh chấp.
Trên thực tế, nhiều vụ kiện kéo dài xuất phát từ việc một người con cho rằng phần đất mình có quyền sử dụng chung đã bị cha mẹ tự ý cho người khác.
VỢ HOẶC CHỒNG CHẾT NHƯNG KHÔNG CHIA THỪA KẾ MÀ TỰ Ý SANG TÊN CHO CON
Theo quy định của pháp luật, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì khi một người chết, một nửa giá trị tài sản thuộc di sản thừa kế của người đã mất.
Tuy nhiên, thực tế nhiều trường hợp sau khi vợ hoặc chồng qua đời, người còn lại tự ý làm thủ tục tặng cho hoặc sang tên toàn bộ nhà đất cho một người con mà không thực hiện thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản thừa kế.
Điều này tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp rất lớn bởi phần tài sản của người đã chết không còn hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của người còn sống.
Những người thuộc hàng thừa kế như các con, cha mẹ của người chết hoặc người thừa kế khác hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu chia phần di sản mà họ được hưởng theo quy định pháp luật.
Đặc biệt, tranh chấp thường xảy ra khi:
– Việc cho tài sản không công bằng giữa các con;
– Người được cho đã đứng tên toàn bộ tài sản;
– Các đồng thừa kế không được biết hoặc không đồng ý.
CẦN LÀM GÌ ĐỂ HẠN CHẾ TRANH CHẤP KHI SANG TÊN SỔ ĐỎ CHO CON?
Để hạn chế rủi ro pháp lý và tránh tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, việc sang tên nhà đất cho con cần được thực hiện đúng quy định pháp luật và rõ ràng về ý chí định đoạt tài sản.
Một số vấn đề cần lưu ý gồm:
– Xác định rõ đất là tài sản riêng, tài sản chung vợ chồng hay đất hộ gia đình;
– Lập hợp đồng tặng cho có công chứng, chứng thực;
– Thực hiện đầy đủ thủ tục đăng ký sang tên;
– Nếu muốn để lại tài sản sau khi qua đời thì nên lập di chúc hợp pháp;
– Trường hợp có nhiều người thừa kế nên công khai, minh bạch việc phân chia tài sản để tránh mâu thuẫn phát sinh.
Trong nhiều trường hợp, tranh chấp không xuất phát từ giá trị tài sản mà bắt nguồn từ việc thiếu rõ ràng trong quá trình định đoạt tài sản hoặc tâm lý cho rằng việc phân chia không công bằng giữa các thành viên trong gia đình.
BẠN ĐANG CẦN HỖ TRỢ PHÁP LÝ?
Mọi thông tin trong bài viết đều được tham vấn chuyên môn bởi Luật sư Trần Duy Huy. Nếu bạn đang gặp vướng mắc về đất đai, ly hôn – quyền nuôi con hoặc các vụ án hình sự, hãy liên hệ ngay để được hỗ trợ kịp thời:
- Hotline/Zalo: 0369151515
- Website: LuậtsưHuy.vn | LUẬTSƯ.NET
Văn phòng làm việc: 286 Nguyễn Oanh, Phường Gò Vấp, TP.HCM